Thứ ba-02/09/2014
KIẾN THỨC LUẬT » Đầu tư

Các chỉ số phân tích tài chính IRR, NPV và ý nghĩa trong việc đánh giá dự án
Ngày đăng: 15/4/2011 6:19:03 AM - Lượt xem: 13,414
Trong việc phân bổ nguồn vốn đầu tư, có thể sử dụng rất nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá một dự án, mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng. Trong bài viết này, tác giả xin đưa ra một số nhận định về việc sử dụng hai chỉ số IRR và NPV để đánh giá mức độ khả thi của một dự án.

1. NPV và IRR:  khái niệm và ý nghĩa trong việc đánh giá hiệuquả dự án

* Về NPV:

-                    Khái niệm:

NPV (Net present value) được dịch là Giá trị hiện tại ròng, có nghĩa làgiá trị tại thời điểm hiện nay của toàn bộ dòng tiền dự án trong tương lai đượcchiết khấu về hiện tại:

 

NPV = giá trị hiện tại của dòng tiền vào (thu)

 - giá trị hiện tại của dòng tiền ra (chi)

-                    Về mặt ý nghĩa:

Nếu NPV dương thì dự án đánggiá. Tại sao lại đáng giá, bởi suất chiết khấu đã là chi phí cơ hội của dự án,vì vậy, nếu đã khấu trừ chi phí cơ hội mà vẫn có lời thì dự án có lợi tức kinhtế. Cho nên, khi đánh giá dự án bằng NPV cần quan tâm đến giá trị của suấtchiết khấu (thường bằng với lãi suất của cơ hội đầu tư tốt nhất nhà đầu tư đặtđược nếu không đầu tư vào dự án đang được đánh giá. Các yếu tố ảnh hưởng tớisuất chiết khấu này được phân tích kỹ trong phần sau của bài viết này) và xemNPV có dương hay không. Nếu như NPV dương có nghĩa là khoản đầu tư có lời bởigiá trị của dòng tiền mặt sau khi khấu hao đã cao hơn mức đầu tư ban đầu.

Thông thường NPV không chỉ được coi là chỉ số màcòn được xem là phương pháp tốt nhất để đánh giá khả năng sinh lời của phươngán hay dự án vì ý nghĩa nôm na của nó cho biết mức lãi ròng của dự án sau khiđã thu hồi vốn đầu tư ban đầu và trang trải tất cả chi phí  (bao gồm cả lạm phát).

Tuy nhiên phương pháp NPV này có nhược điểm làđòi hỏi tính toán chính xác chi phí mà điều này thường khó thực hiện đối vớicác dự án có đời sống dài. Vì thế trong thực tiễn người ta phát triển chi phívốn thành tỉ suất chiết khấu hay còn gọi là tỉ suất sinh lợi tối thiểu chấpnhận được - tỷ suất rào (thường do nhà đầu tư kỳ vọng trên cơ sở cân nhắc tínhtoán đến các yếu tố tác động vào dự án đầu tư). Một nhược điểm khác nữa của NPVđó là không cho biết khả năng sinh lợi tính theo tỉ lệ % do đó ảnh hưởng đếnviệc khó chọn lựa cơ hội đầu tư.

-                    Tỷ suất rào (tý suất chiếtkhấu trong các báo cáo Nghiên cứu khả thi)

Tỷ suất rào là tỷ suất hoàn vốn tối thiểu mà tất cảcác khoản đầu tư cho một doanh nghiệp cụ thể phải đạt được.

Trước tiên khi tìm hiểu về tỷsuất rào, chúng ta cần phân tích về chi phí sử dụng vốn của một dự án. Nó chínhlà chi phí bình quân gia quyền của các nguồn vốn khác nhau của tổ chức: cả nợvà chủ sở hữu.

Vốn nợ mà các công ty sửdụng đều có một chi phí gọi là lãi suất phải trả cho các trái phiếu và các giấynợ khác.  Lưu ý rằng vốn góp của các chủsở hữu cũng là chi phí thực. Chi phí này là chi phí cơ hội - tức là phần mà cáccổ đông có thể kiếm được trên phần vốn của mình nếu họ đầu tư vào cơ hội tốtthứ hai ở cùng một mức rủi ro. Ví dụ, nếu nhà đầu tư có 100.000 USD tiền đầu tưvào cổ phiếu Công ty XYZ - một công ty có giá cổ phiếu hay dao động bất thường,chi phí cơ hội của họ cho số vốn đó có thể là 14% - tỷ lệ sinh lời mà họ có thểđạt được cho một vụ đầu tư khác có mức rủi ro tương đương. Vì vậy, đối với mộtcông ty lớn và ổn định, chi phí cơ hội của cổ đông có thể là 10%; còn đối với mộtcông ty công nghệ cao và khá rủi ro thì chủ sở hữu có thể trông đợi tỷ lệ sinhlời 18%. Nói một cách đơn giản thì chi phí vốn là chi phí bình quân gia quyềncủa các nguồn vốn khác nhau của tổ chức.

Vậy tỷ suất rào hợp lý chomột doanh nghiệp cụ thể là bao nhiêu? Tỷ suất này dao động tùy theo từng côngty. Thông thường, tỷ suất rào được lập trên mức có thể đạt được từ một khoảnđầu tư không rủi ro, chẳng hạn như trái phiếu kho bạc.

Cách tính tỷ suất rào:

Tỷ suất rào =Tỷ suất không rủi ro + Tiền phản ánh rủi ro của dự án

Bất cứ nhà đầu tư nào đềumong muốn được đền đáp xứng đáng cho sự không chắc chắn mà họ đã chịu. Về bảnchất, các mỗi dự án đều có nhiều yếu tố không chắc chắn. Vì lý do đó, các nhàđầu tư đòi hỏi cácdự án tương lai phải chỉ ra được sự hứa hẹn khả dĩ.

Các dự án đầu tư khác nhausẽ có các tỷ suất rào khác nhau. Với các khoản đầu tư rủi ro thấp thì tỷ suấtvào phải thấp hơn mức được áp đặt cho loại đầu tư rủi ro cao hơn. Ví dụ, một dựán thay thế dây chuyền lắp ráp hiện tại hay các bộ phận thiết bị chuyên dụngphải sử dụng tỷ suất rào là 10%, nhưng dự án sản xuất các dòng sản phẩm mới thìphải sử dụng tỷ suất rào là 15%.

* Về IRR:

-                    Khái niệm:

IRR (internal rate of return) suất thu lợi nộitại. Có nghĩa là suất sinh lợi của chính bản thân dự án, IRR là nghiệm củaphương trình NPV=0. Nói cách khác muốn tìm IRR chỉ cần giải phương trìnhNPV(IRR) =0. Đây là phương trình bậc cao, nếu có sự đổi dấu sẽ có nhiều nghiệm.Còn nếu không thì chỉ có 1 nghiệm.

-                    Ý nghĩa:

IRR có thể tính bằng cách nội suy chặn trên chặndưới, tuy nhiên, nhờ ứng dụng của Excel, việc tính IRR trở nên dễ dàng. Điềuquan trọng là hiểu ý nghĩa của IRR. Nếu giá trị này lớn hơn giá trị suất chiếtkhấu (chi phí cơ hội) thì dự án đáng giá.

Hiểu một cách chung nhất, tỉlệ hoàn vốn nội bộ càng cao thì khả năng thực thi dự án là càng cao. IRR cònđược sử dụng để đo lường, sắp xếp các dự án có triển vọng theo thứ tự, từ đó cóthể dễ dàng hơn trong việc cân nhắc nên thực hiện dự án  nào. Nói cách khác, IRR là tốc độ tăng trưởngmà một dự án có thể tạo ra được. Nếu giả định rằng tất cả các yếu tố khác của các dự án là như nhau thìdự án nào có tỉ suất hoàn vốn nội bộ cao nhất thì dự án đó có thể được ưu tiênthực hiện đầu tiên.

Phương pháp IRR có ưu điểm là dễ tính toán vì khôngphụ thuộc chi phí vốn, rất thuận tiện cho việc so sánh cơ hội đầu tư vì chobiết khả năng sinh lời dưới dạng %. Ý nghĩa cốt lõi của IRR là cho nhà đầu tưbiết được chi phí sử dụng vốn cao nhất có thể chấp nhận được. Nếu vượt quá thìkém hiệu quả sử dụng vốn. Nhược điểm của IRR là không được tính toán trên cơ sởchi phí sử dụng vốn do đó sẽ có thể dẫn tới nhận định sai về khả năng sinh lờicủa dự án. Nhà đầu tư sẽ không biết được mình có bao nhiêu tiền trong tay.

Tỷsuất thu nhập nội bộ (IRR) là một công cụ nữa mà các nhà đầu tư có thể sử dụngđể quyết định có nên tập trung toàn lực cho một dự án cụ thể, hay phân loạitính hấp dẫn của nhiều dự án khác nhau.

IRR cũng có thể được so sánhvới tỉ suất hoàn vốn trên thị trường chứng khoán. Nếu một công ty không thấy dựán nào có IRR tốt hơn mức lợi nhuận có khả năng tạo ra trên thị trường tàichính, công ty đó có thể đơn giản là đầu tư tiền của mình vào thị trường nàythay vì thực hiện dự án. 

2. Đánh giá dự án: NPV hay IRR

Nói chung, nhìn IRR thì dễ hình dung vì số % cụthể, nhìn NPV bằng tiền rất khó diễn dịch. Vì vậy người ta dùng cả 2 cách đểđánh giá.

Trước hết nếu xem xét hai chỉ số này trong cùngđiều kiện thì tỉ suất hoàn vốn nội bộ và  giá trị hiện tại thuần đều chocùng một kết quả. Tuy nhiên có rất nhiều trường hợp thì IRR lại không hiệu quảbằng NPV trong việc tính toán và chiết khấu dòng tiền. Hạn chế lớn nhất của IRRcũng chính là ưu điểm của nó: chỉ sử dụng một tỷ lệ chiết khấu duy nhất để đánhgiá tất cả các kế hoạch đầu tư. Mặc dù việc sử dụng một tỉ lệ chiết khấu duynhất giúp đơn giản hóa quy trình tính toán, nhưng trong nhiều trường hợp điềuđó lại dẫn đến những sai lệch. Nếu một tiến hành đánh giá hai dự án đầu tư, cảhai dự án cùng sử dụng chung một tỉ lệ chiết khấu, cùng dòng tiền tương lai,cùng mức độ rủi ro, và cùng có thời gian thực hiện ngắn, IRR là một cách đánhgiá hiệu quả. Tuy nhiên bản thân tỉ lệ chiết khấu lại là một nhân tố động, nóluôn biến đổi theo thời gian. Nếu quy ước sử dụng lãi suất trái phiếu chính phủlàm lãi suất chiết khấu, lãi suất này có thể thay đổi từ 1% đến 20% trong vòng20 năm, từ đó làm cho tỉ lệ chiết khấu cũng biến động theo. Nếu không có sựđiều chỉnh, tức là IRR không tính đến sự thay đổi của tỉ lệ chiết khấu, phươngpháp này sẽ không phù hợp với các dự án dài hạn.

Một kiểu dự án khác mà việc áp dụng IRR sẽ khônghiệu quả đó là các dự án có sự đan xen của dòng tiền dương và dòng tiền âm. Vídụ một dự án yêu cầu phải có kinh phí ban đầu là -50,000USD (dòng tiềnâm)  trong năm đầu tiên. Dự án này sẽ tạo ra 115,000 USD (dòng tiền dương)trong năm tiếp theo, sau đó cần tiếp chi phí đầu tư -66,000USD trong năm thứ 3vì có sự điều chỉnh lại dự án. Như vậy thì áp dụng một tỉ lệ IRR duy nhất làkhông phù hợp.

Một hạn chế nữa trong việc áp dụng IRR là phảibiết được tỉ lệ chiết khấu của dự án. Để tiến hành đánh giá dự án thông qua IRRthì ta phải so sánh nó với tỉ lệ chiết khấu. Nếu IRR cao hơn tỉ lệ chiết khấuthì dự án là khả thi. Không biết tỉ lệ chiết khấu hoặc tỉ lệ chiết khấu vì lýdo nào đó không thể áp dụng cho dự án thì phương pháp IRR sẽ không còn giá trị.

Để khắc phục những hạn chế của phương phápIRR ta có thể sử dụng NPV.

Ưu điểm của việc sử dụng NPV đó là phương phápnày cho phép sử dụng các tỉ lệ chiết khấu khác nhau mà không dẫn đến sai lệch.Đồng thời cũng không cần phải so sánh NPV với chỉ số nào khác, nếu như NPV lớnhơn 0 có nghĩa là dự án là khả thi về mặt tài chính.

Vậy thì tại sao IRR vẫn được sử dụng phổ biến hơntrong việc tính toán phân bổ nguồn vốn? Có lẽ phương pháp này được ưa thích hơnchỉ vì quy trình tính toán của nó rất đơn giản. Phương pháp IRR đơn giản hoá dựán thành một con số duy nhất từ đó nhà quản lý có thể xác định được liệu dự ánnày có kinh tế, có khả năng đem lại lợi nhuận hay không. Nhìn chung thì IRR làphương pháp đơn giản nhưng đối với các dự án dài hạn có dòng tiền khác nhau vàtỉ lệ chiết khấu khác nhau, các dự án có dòng tiền không ổn định, thì IRR khôngphải là chỉ số tốt mà NPV mới chính là sự lựa chọn đúng đắn.

Một ví dụ minh hoạ là các dự án giao thông vận tảihoặc khai thác khoáng sản, rõ ràng là sẽ có IRR thấp hơn các dự án trong lĩnhvực dịch vụ, chẳng hạn dự án mở một cửa hàng đồ ăn nhanh, trong khi NPV chắc chắcsẽ cao hơn. Tuy nhiên, NPV cao hơn không có nghĩa là dự án khai thác khoáng sảntốt hơn, vì chắc chắn lượng vốn ban đầu bỏ ra của dự án này cao hơn dự án tronglĩnh vực dịch vụ rất nhiều. Một lần nữa chúng ta thấy rằng IRR và NPV là nhữngcông cụ rất tốt nhưng có những điều kiện áp dụng nhất định như đã trình bày ởtrên. Vì vậy, khi so sánh hiệu quả của các dự án, cần xem xét bản chất của ngànhnghề kinh doanh và chi phí vốn bỏ ra ban đầu để có những so sánh kết luận chínhxác.

3. Kết luận

Khi phântích đánh giá dự án, cần lưu ý rằng, các chỉ số trên là chỉ tiêu đánh giá tàichính. Hiện nay, những người làm dự án còn quan tâm đến NPV, IRR Kinh tế. Có nghĩa là lượng hoá các đại lượng kinh tế đểtính hiệu quả của dự án đối với nền kinh tế. Ví dụ như đầu tư 1 ngôi trường cóthể lỗ về mặt tài chính nhưng nếu tính toán các giá trị kinh tế khác có được từngôi trường vào thì NPV kinh tế đáng giá. Hoặc dự án đầu tư vào một nhà máy côngnghiệp chế tạo có lãi về mặt tài chính nhưng lại làm ô nhiễm môi trường thì NPVkinh tế có thể lại không đáng giá.

Trong nềnkinh tế hiện đại, để đảm bảo công bằng và bảo vệ môi trường, xu hướng chung là tấtcả các chủ thể hoạt động trong nền kinh tế sẽ phải trả cho các tác động ngoailai mà họ gây ra với chủ thể khác. Một ví dụ là công cụ kinh tế giấy phép xảthải. Theo đó, các công ty xả thải phải chịu một khoản chi phí nhất định choviệc làm ô nhiễm môi trường chung. Tuy nhiên, để đánh giá NPV hay IRR kinh tế,cần các điều tra xã hôi học và kinh tế rộng lớn, trong đó có xem xét tới cáctác động ngoại lai gây ra bởi các tất cả các chủ thể. Tác giả xin được phântích và đi sâu về các khái niệm và ý nghĩa của các chỉ số trên trong một bàiviết khác.

Nguyễn ThịViệt Anh  - Chuyên viên tư vấn - Investconsult Group


Lưu Ý: Thông tin nêu trên chỉ có tính tham khảo và có thể đã hết giá trị sử dụng tại thời điểm Quý Vị đọc thông tin này. Vì vậy Quý Vị cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.

Những nội dung khác cùng chuyên mục:
  • Niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Hong Kong (15/4/2011 9:57:21 AM)
  • Những trường hợp bất khả kháng trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. (15/4/2011 9:57:20 AM)
  • Niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Mỹ (NYSE & NASDAQ) (15/4/2011 9:57:20 AM)
  • Niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Singapore (15/4/2011 9:57:19 AM)
  • Điều kiện xuất khẩu một sản phẩm sang Hoa Kỳ. (15/4/2011 9:57:19 AM)
  • Niêm yết cổ phiếu trên TTCK London (LSE) (15/4/2011 9:57:19 AM)
  • Niêm yết tại Mỹ: Cứu cánh cho doanh nghiệp (15/4/2011 9:57:18 AM)
  • Doanh nghiệp Việt Nam sẽ có lợi khi niêm yết trên TTCK Malaysia (15/4/2011 9:57:18 AM)
  • Kỹ năng đưa doanh nghiệp lên TTCK bằng IPO (15/4/2011 9:57:18 AM)
  • Tính pháp lý trong các chiến dịch tiếp thị sản phẩm (15/4/2011 9:57:17 AM)
  • Tìm hiểu luật và chính sách chống bán phá giá (anti-dumping) của Mỹ [1] (15/4/2011 9:47:24 AM)
  • Kinh tế đối ngoại nước ta hiện nay: Tình hình và các giải pháp (15/4/2011 9:47:23 AM)
  • Kinh tế Việt Nam trước sự trỗi dậy của Trung Quốc (15/4/2011 9:47:23 AM)
  • Lao động có kỹ năng: Lỗ hổng nghiêm trọng trong phát triển ở Việt Nam - Hồng Lê Thọ (15/4/2011 9:47:22 AM)
  • Cuộc chơi WTO: Cách đặt vấn đề của J. E. Stiglitz - Trần Hải Hạc (Đại học Paris XIII) (15/4/2011 9:47:22 AM)
  • Thăm dò ý kiến
    Bạn có hài lòng với giao diện của hệ thống kiến thức luật ?
    Tôi thấy rất đẹp !
    Tôi thấy bình thường
    Tôi thấy không đẹp
    Cần thay bằng tông đen
    Cần thay bằng tông xanh
    Ý kiến khác
    Bản đồ hướng dẫn đường đi
    Xem nhiều - Điểm tin
    Xem nhiều - Hỏi đáp
    Xem nhiều - Thủ tục
    Xem nhiều - Biểu mẫu
    Xem nhiều - Văn bản
    Tiêu điểm
    + Được xem nhiều
    + Hỗ trợ trực tuyến
    Dân sự - Thừa kế
Đất Đai - Bất động sản
  • Dân sự - Thừa kế
  • Đất Đai - Bất động sản
  • Đầu tư nước ngoài - Dự án
Hợp đồng - Sở hữu trí tuệ
  • Đầu tư nước ngoài - Dự án
  • Hợp đồng - Sở hữu trí tuệ
  • Thành lập công ty
Thay đổi đăng ký kinh doanh
Chia tách sáp nhập
  • Thành lập công ty
  • Thay đổi đăng ký kinh doanh
  • Chia tách sáp nhập
  • + Thông tin liên hệ

    CÔNG TY LUẬT NAM DƯƠNG

    Đ/c: Tầng 1, Khu văn phòng Nam Dương, đối diện 322 Lê Trọng Tấn, Thanh Xuân, Hà Nội

    ĐT: 04. 2215 8998 - 2260 1636

    Hotline: 0984.99.95.97-  Ls Trung Hiếu

    Email: contact@luatnamduong.vn

    Website: www.luatnamduong.vn

    « Bài viết mới »
    + Điểm tin
    « Bài viết mới »
    + Hỏi đáp pháp luật
    « Bài viết mới »
    + Thủ tục
    « Biểu mẫu mới »
    + Biểu mẫu
    « Bài viết mới »
    + Văn bản
    CHUYÊN TRANG THÔNG TIN PHÁP LUẬT
    Địa chỉ: Tòa nhà 26 lô 1A, Khu đô thị Trung Yên, Hà Nội.
    Email: contact@luatnamduong.vn
    Tham khảo các chuyên trang: www.dautunuocngoai.com.vn / www.dangkykinhdoanh.org / www.quyche.com
    © 2008 - 2014 KIẾN THỨC LUẬT

    Xem tốt trên các trình duyệt: IE 7+, Firefox 3+, GoogleChrome 4+

    Ghi rõ nguồn "kienthucluat.vn" khi phát hành lại thông tin từ website này.