Thứ sáu-22/08/2014
KIẾN THỨC LUẬT » Dân sự

Lược sử các quy định của pháp luật về trách nhiệm dân sự do tài sản gây ra thiệt hại
Ngày đăng: 15/4/2011 9:45:39 AM - Lượt xem: 417
Các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết hoặc do luật định thì phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về vật chất hoặc tinh thần. Nguyên tắc được coi là có tính tất yếu để bảo vệ quyền lợi của các cá nhân và tổ chức đồng thời nhằm mục đích duy trì trật tự lưu thông dân sự trong xã hội. Tuy vậy, nguyên tắc bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ lại là kết quả của một quá trình diễn biến rất lâu dài trong lịch sử.

Trong thời kỳ cổ xưa khi xã hội chưa có nhiều địnhchế để giải quyết các vụ tranh chấp giữa các cá nhân với nhau nên mỗikhi quyền lợi của cá nhân bị xâm phạm, các cá nhân được tự ý trừng phạtlẫn nhau hoặc bắt đối phương làm nô lệ, hay tước đoạt tài sản của họ.Đây là chế độ tư nhân phục cừu. Dấu ấn của chế độ này còn lưu lại trongmột số điều của hai Bộ Luật Hồng Đức và Luật Gia Long. Theo Điều 591 BộLuật Hồng Đức thì: “Người đòi nợ không trình quan mà tự ý bắt đồđạc, của cải của người mắc nợ, nếu quá số tiền trong văn tự thì xử phạt80 trượng, tính những của cải ấy trả cho người có nợ, còn thừa thì trảcho người mắc nợ”. Như vậy Bộ Luật Hồng Đức cho phép bắt đồ đạc đểtrừ nợ nếu việc trừ nợ không quá số tiền cho vay. Hạn chế này của BộLuật Hồng Đức nhằm loại trừ sự tự tiện của chủ nợ trong việc chiếm đoạttài sản của con nợ để bù vào số tiền cho vay.

Trong Bộ Luật Gia Long, Điều 134 cũng đề cập đến vấnđề này nhưng rõ rệt hơn. Bộ Luật Gia Long cấm các chủ nợ không được tựtiện bắt gia súc hay tài sản của con nợ và cũng không được bắt thânnhân của họ làm nô tỳ. Ngoài ra, người gây thiệt hại cũng phải nộp mộtsố tiền chuộc để tránh sự trả thù.

Từ các qui định viện dẫn trên chứng tỏ chế độ tưnhân phục cừu đã xuất hiện ở Việt Nam. Có thể nói rằng đây là manh nhacủa chế độ trách nhiệm dân sự cho dù không có điều khoản nào của hai Bộluật trên nói đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cả.

Đến khi bộ máy Nhà nước đư��c tổ chức ổn địnhtrong xã hội thì hai bên không được tự tiện trả thù hay tự tiện thỏathuận số tiền chuộc mà việc giải quyết tranh chấp phải bằng cách bồithường một khoản tiền mà pháp luật qui định. Khoản tiền bồi thường nàyvừa có tính chất là hình phạt vừa có tính chất là bồi thường. Theo Điều29 Bộ Luật Hồng Đức thì tiền đền mạng được ấn định tùy theo phẩm trậtcủa kẻ bị chết như sau: Nhất phẩm, tòng nhất phẩm được đền 15.000 quan,nhị phẩm, tòng nhị phẩm 9.000 quan, tam phẩm, tòng tam phẩm 7.000 quan,tứ phẩm, tòng tứ phẩm 5.000 quan, ngũ phẩm, tòng ngũ phẩm 2.000 quan,lục phẩm, tòng lục phẩm 1.000 quan, thất phẩm, tòng thất phẩm 500 quan,bát phẩm đến cửu phẩm 300 quan, thứ dân trở xuống 150 quan.

Trong trường hợp đánh người gây thương tích thì thì người phạm tội ngoài hình phạt bị đánh roi còn phải bồi thường cho nạn nhân theo mc đã được qui định trong Điều 466 Bộ Luật Hồng Đức như sau: “Sưng phù thì phải đền tiền tổn thương3 tiền, chảy máu thì phải 1 quan, gãy một ngón tay, một răng thì đền 10quan, đâm chém bị thương thì 15 quan. Đọa thai chưa thành hình thì 30quan, đã thành hình thì 50 quan, đứt lưỡi, hỏng âm, dương vật thì đền100 quan. Về người quyền quí thì xử khác”

Riêng Bộ Luật Gia Long tiền bồi thường không được đềcập đến. Trong Bộ Luật Gia Long chỉ có Điều 201 qui định về tiền bồithường cho gia đình nạn nhân trong trường hợp phạm tội giết người, phạmnhân bị phạm tội chiếu theo điều luật cố ý đả thương nhân thương chí tửnhưng cho chuộc tội. Tiền chuộc thì giao cho gia đình nạn nhân để lochôn cất. Nếu phạm nhân bị phạt tội giảo thì thì số tiền chuộc là 12lạng bạc. Đối với người điên giết người thì số tiền này cũng vậy

Nếu kẻ giết người được ân xá, y phải trả cho giađình nạn nhân 20 lạng bạc. Nếu nghèo túng thì chỉ phải trả nửa số tiềnấy. Đối với trường hợp gây thương tích theo Điều 271 Bộ Luật Gia Longcũng qui định tỉ mỉ các hình phạt tùy theo thương tích từ nhẹ đến nặngnhưng đó chỉ là những chế tài về hình sự chứ không đề cập đến bồithường như trong Điều 466 của Bộ Luật Hồng Đức. Điều 271 Bộ Luật GiaLong chỉ dự liệu bồi thường trong các trường hợp nặng nhất như hỏngmắt, gãy tay chân, làm hỏng bộ phận trong cơ thể…thì ngoài hình phạtlưu 300 lý, 100 trượng thì 1/2 tài sản kẻ phạm tội được đền cho nạnnhân để nuôi thân.

Bước phát triển tiếp theo của chế định bồi thườngthiệt hại đánh dấu sự can thiệp mạnh mẽ hơn của Nhà nước bằng cách dựliệu những chế tài về hình sự để trừng phạt những kẻ nào xâm phạm đếntài sản và nhân thân kẻ khác. Ngoài việc phải gánh chịu hình phạt kẻphạm tội còn phải bồi thường cho nạn nhân những thiệt hại mà họ đã gâyra. Vì mang tính chất hình phạt nên số tiền bồi thường được ấn định gấpđôi, gấp ba, gấp bốn lần thiệt hại thực tế đã xảy ra

Như vậy trong Cổ luật Việt Nam chưa có sự phân biệtrõ rệt giữa trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự. Tuy chỉ được coilà một yếu tố cấu thành trong trách nhiệm hình sự và chưa được coi làmột chế định riêng biệt về trách nhiệm dân sự (tức là chỉ bắt người gâythiệt hại phải bồi thường thiệt hại mà không trừng phạt về hình sự)song Bộ Luật Hồng Đức và Bộ Luật Gia Long cũng đã ý thức được vai tròcủa bồi thường thiệt hại cũng vì thế mà trách nhiệm bồi thường thiệthại đã dần dần có xu hướng tách rời khỏi các trách nhiệm hình sự. TheoĐiều 581 Bộ Luật Hồng Đức thì thì: “Người thả trâu, ngựa cho dàyxéo, ăn lúa, dâu của người khác thì phải xử phạt 80 trượng và đền bùthiệt hại. Nếu cố ý thả cho dày xéo, phá hoại thì xử biếm một tư và đềngấp đôi sự thiệt hại. Nếu vì trâu, ngựa chạy lồng lên không kìm hãmđược thì miễn tội trượng”. Như vậy, trong trường hợp này chỉ là vấnđề bồi thường thiệt hại là một trách nhiệm thuần túy dân sự hoặc Điều585 Bộ Luật Hồng Đức qui định rằng: “Trâu của hai nhà đánh nhau, connào chết thì cả hai cùng thịt, con nào sống thì hai nhà cùng cày, tráiluật thì xử phạt 80 trượng”. Như vậy, hình phạt chỉ phải dùng đến khicác đương sự không tuân theo giải pháp dân sự đã được ấn định

Điều 91 Bộ Luật Gia Long qui định về trường hợp khivứt bỏ hay phá hoại đồ vật, mùa màng, cây cối của người khác thì ngoàiviệc xử người vi phạm về tội trộm can phạm mà còn phải bồi thường thiệthại đã gây ra cho người cho người bị thiệt hại. Tuy nhiên, nếu những đồvật bị vứt bỏ hoặc bị phá hủy của tư nhân và sự vứt bỏ, phá hoại do vôý gây ra thì người gây ra thiệt hại chỉ phải bồi thường, trường hợp nàycũng hoàn toàn là trách nhiệm dân sự

Tóm lại, mặc dù các qui định nêu trên chỉ áp dụngtrong một phạm vi có giới hạn song điều này chứng tỏ khái niệm tráchnhiệm dân sự dân sự không phải là khái niệm xa lạ trong Cổ Luật ViệtNam. Có thể nói rắng ý niệm này đã manh nha và cùng với sự phát triểncủa hệ thống pháp luật dần dần được định hình với tư cách là một chếđịnh trách nhiệm

Có thể nói chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng nói chung và bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra nóiriêng, đã trải qua một thời gian dài hình thành và phát triển. Các nhàlàm luật của Việt Nam cũng như những người áp dụng pháp luật đã có rấtnhiều cố gắng trong việc xây dựng cũng như giải thích các quy định củapháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh khi xác định trách nhiệm bồithường thiệt hại. Đặc biệt lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp nước nhàtrách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cũng được giải thích khá cụthể và rõ ràng trong Thông tư 173 – Ủy ban Thẩm phán của TANDTC ngày23/3/1972 hướng dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng(Thông tư 173). Thông tư 173 được ban hành trong bối cảnh nền lập phápcủa nước nhà còn ở giai đoạn mới hình thành, còn chưa phát triển. Ngoàira điều kiện kinh tế xã hội lúc đó rất đặc thù, nhận thức của các nhàlàm luật và những người có chức năng giải thích pháp luật còn hạn chế.

Theo Thông tư 173, nhiều người cùng chung gây thiệthại thì họ chỉ liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi giữahọ có sự thống nhất ý chí. Thông tư cũng giải thích rằng, thông thường,họ thống nhất ý chí với nhau cả về hành vi lẫn về hậu quả (như cộngphạm lừa đảo, tham ô…), nhưng cũng có trường hợp, họ cùng nhau gâythiệt hại mà chỉ thống nhất ý chí về hành vi (như hai người do cùng lăngỗ ở trên cao xuống mà vô ý gây tai nạn…) hoặc chỉ thống nhất ý chí vềhậu quả (như tên trộm cắp và kẻ tiêu thụ tài sản trộm cắp), họ vẫn phảichịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, khi xác địnhtrách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong trường hợp chỉ có sựthống nhất ý chí về hậu quả cần phải xét đến phong tục, tập quán nơihành vi gây thiệt hại xảy ra cũng như của những người liên quan. Về vấnđề này Báo cáo tổng kết hội nghị toàn ngành Toà án nhân dân năm 1967 đãgiải thích như sau: Đối với trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại,trong các vụ săn bắn vô ý làm chết hoặc làm bị thương người khác, cóthể thấy không thể dựa vào tập tục lợi cùng hưởng của các phường sănbắn để bắt chịu trách nhiệm liên đới được. Hai vấn đề khác hẳn nhau:Việc chia đều phần thịt thú rừng săn bắn được giữa các người cùng đisăn là một tập quán ở các vùng dân tộc; việc bồi thường thiệt hại khixảy ra tai nạn thuộc phạm trù trách nhiệm dân sự. Chỉ kẻ có lỗi mớiphải chịu trách nhiệm dân sự, người trực tiếp gây ra tai nạn mới phảibồi thường thiệt hại. Còn nếu họ tự nguyện giúp đỡ nhau góp phần bồithường thiệt hại thì là một việc làm tốt, Toà án không phải can thiệp.Trong bối cảnh như vậy thì trong một chừng mực nào đó, cách giải thíchnhư vậy là phù hợp với phong tục, tập quán của địa phương.

Khi xác định trách nhiệm liên đới bồi thường thiệthại, Toà án có thể căn cứ vào tình hình cụ thể của sự việc, phần chiếmđoạt hoặc mức độ lỗi của mỗi người để ấn định phần bồi thường của mỗingười, giúp cho họ biết rõ phần trách nhiệm bồi thường của mình trongsố tiền phải bồi thường chung. Gặp trường hợp không có căn cứ rõ ràngđể ấn định phần bồi thường cụ thể của mỗi người thì Toà án phân chiađều mức bồi thường cho mỗi người. Trong trường hợp tài liệu chưa đầyđủ, cần điều tra, thu thập thêm mới có thể định rõ được phần bồi thườngcủa mỗi người, và nếu có yêu cầu xét xử kịp thời vụ án hình sự, thìtrong phần dân sự, Toà án chỉ tuyên trách nhiệm liên đới; còn việc ấnđịnh mức bồi thường của mỗi người, thì Toà án sẽ bổ sung sau bằng mộtbản án dân sự. Nếu là vụ án dân sự hoặc việc xét xử vụ án hình sự khôngcó tính chất cấp bách, thì Toà án cần chờ kết quả của việc điều tra bổsung để có thể vừa tuyên trách nhiệm liên đới, vừa ấn định cụ thể mứcbồi thường của mỗi người.

Bên cạnh sự giải thích hợp lý nói trên, Thông tư 173không thừa nhận việc áp dụng trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hạitrong trường hợp nếu nhiều người cùng chung gây thiệt hại nhưng khôngcó sự thống nhất ý chí, thí dụ: hai ô tô cùng phóng nhanh, cùng có lỗinên va phải nhau và gây thiệt hại cho người đi đường. Trong nhữngtrường hợp này Toà án phải xác định rõ phần trách nhiệm cụ thể của mỗingười để ấn định mức bồi thường riêng cho từng người.

Thực tiễn xét xử nhiều năm cho thấy rằng, nói chung,phương hướng xét xử đã được TANDTC hướng dẫn trong Thông tư 173 là đúngđắn. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, các quan hệ phátsinh ngày càng phong phú hơn và vì vậy phát sinh một số vấn đề cần đượchướng dẫn thêm, đặc biệt là trong việc liên đới bồi thường thiệt hạitrong tai nạn ô tô. Sau khi rút kinh nghiệm và trao đổi thống nhất vớiViện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) và Bộ Giao thông vận tải.TANDTC ban hành Thông tư số 03 –TATC ngày 5/4/1983 hướng dẫn giải quyếtmột số vấn đề về bồi thường thiệt hại trong tai nạn ô tô. Một trongnhững hướng dẫn của Thông tư 03 như sau: Nếu lỗi của người thứ ba vàlỗi của phía ô tô đều là nguyên nhân gây ra tai nạn, thì người thứ bavà phía ô tô phải liên đới bồi thường (ví dụ: người đi xe đạp không cóphanh đâm vào một người đi đường, làm cho người này bị ngã và bị ô tôchạy quá tốc độ cán bị thương, thì người đi xe đạp và phía ô tô phảiliên đới bồi thường cho người bị thương). Trong ví dụ nêu trên, nhậnthấy rằng, không tồn tại sự thống nhất ý chí về hành vi và về hậu quảgiữa những người cùng gây ra thiệt hại. Rõ ràng, họ hoàn toàn không cósự bàn bạc, thoả thuận trước về việc thực hiện hành vi cũng như hậuquả. Hành vi của người đi xe đạp và hành vi của người lái ô tô là hoàntoàn độc lập với nhau.

Như vậy, điểm khác biệt cơ bản của Thông tư 03 –TATC so với Thông tư 173 thể hiện ở chỗ, Theo Thông tư 03, trong nhiềutrường hợp nhiều người gây thiệt hại nhưng giữa họ không có sự thốngnhất ý chí về hành vi cũng như hậu quả thì họ cũng phải liên đới bồithường cho người bị thiệt hại. Đây được coi là một sự thay đổi cơ bảnvề nhận thức của những người xây dựng và giải thích pháp luật. Sự thayđổi nhận thức nói trên là hoàn toàn phù hợp với sự phát triển xã hội,với sự phát sinh nhiều quan hệ xã hội mới mà vào thời điểm ban hànhThông tư 173 chưa có. Vào thời điểm ban hành Thông tư 173, ở Việt Namcác loại xe ô tô chỉ thuộc sở hữu nhà nước, và vì vậy trong trường hợphai xe cùng gây tai nạn cho người đi đường thì việc liên đới chịu tráchnhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại hay là chịu trách nhiệm riêngrẽ thực ra là không có ý nghĩa bởi vì trong mọi trường hợp chủ sở hữuphương tiện là Nhà nước phải bồi thường. Chính vì lẽ đó, trong mọitrường hợp người bị thiệt hại luôn được bồi thường kịp thời. Sau đó ởViệt Nam, xe ô tô không chỉ thuộc sở hữu nhà nước mà còn cả thuộc sởhữu tư nhân (nhất là trong thời kỳ mở cửa và hội nhập), khả năng tàichính khác nhau, nếu không áp dụng trách nhiệm liên đới bồi thườngthiệt hại, thì thiệt hại khó có thể được bồi thường kịp thời. Xuất pháttừ điều đó nên cần phải có cách nhìn nhận mới về trách nhiệm liên đớibồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn do ô tô gây ra. Thông tư 03 –TATC ra đời trong bối cảnh đó. Như vậy, hướng dẫn của Thông tư 03 làphù hợp với thực tiễn, với tính chất của chế định trách nhiệm liên đớibồi thường thiệt hại.

Trong trường hợp nói trên, hành vi của người đi xeđạp và hành vi của người lái ô tô là hành vi có lỗi và hành vi của mỗingười đều có mối quan hệ nhân quả với hậu quả xảy ra. Nhận thấy rằng,mặc dù không có sự thống nhất ý chí về hành vi và hậu quả tuy nhiên,một điều mà ai cũng nhận thấy rằng, hành vi của từng người trong ví dụnói trên có mối liên hệ với nhau. Không có hành vi của người đi xe đạpthì sẽ không có hành vi của người lái ô tô và như vậy sẽ không có thiệthại xảy ra. Nếu người đi xe đạp cũng có lỗi, nhưng người lái xe làm chủđược tốc độ thì cũng không xảy ra thiệt hại. Do đó, khi xem xét hành vicủa từng người và hậu quả xảy ra trong tổng thể, cần chú ý đến mối quanhệ giữa chúng là mối quan hệ của cặp phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên.Ngoài ra trong Thông tư 173 cũng đề cập đến trách nhiệm bồi thường dosúc vật gây ra. Nhưng cũng chỉ đề cập đến trách nhiệm bồi thường củachủ sở hữu và người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng chứ chưa cóqui định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thứ ba và vấn đềliên đới chịu trách nhiệm cũng chưa được đề cập tới.

Tất cả những hạn chế này đã được khắc phục cơ bảntrong các qui định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gâyra được đề cập đến trong bộ luật Dân sự 1995 ở các Điều 627,629,630,631và bộ luật Dân sự 2005 ở các Điều 623,625,626,627 đó là các loại tráchnhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; bồi thườngthiệt hại do súc vật gây ra; bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra;bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra. Trongsố các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra này thìđối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra đã qui địnhrất cụ thể về trách nhiệm của chủ sở hữu, của người thứ ba, của người chiếm hu sử dụngtrái pháp luật và sự liên đới chịu trách nhiệm của các chủ thể này đặcbiệt còn đề cập đến bồi thường thiệt hại đối với súc vật thả dông theotập quán. Nhưng vẫn còn một số qui định trong bộ luật Dân sự 2005 vềbồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra vàtrách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cònchưa hợp lý. Cụ thể, Điều 627 BLDS 2005 quy định rằng, chủ sở hữu,người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xâydựng khác phải bồi thường thiệt hại, nếu để nhà cửa, công trình xâydựng khác đó bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở gây thiệt hại cho người khác,trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hạihoặc do sự kiện bất khả kháng. Khi xem xét quy định này của pháp luật,nhận thấy có nhiều vấn đề còn chưa được rõ ràng. Việc sử dụng, quản lýnhà cửa với việc quản lý công trình xây dựng đã hoàn thành và đã đượcđưa vào sử dụng với công trình đang được xây dựng chưa hoàn thành lànhững vấn đề có nhiều điểm khác nhau. Tuy nhiên, việc các nhà làm luậtgộp tất cả các vấn đề có những đặc điểm khác nhau vào một điều luật làchưa hợp lý.

Khi xây dựng quy định pháp luật tại Điều 627 BLDS2005 cần phải xem xét vấn đề từ các phương diện khác nhau. Điều nàyđược lý giải bởi việc nhà cửa, công trình được chủ sở hữu giao chongười khác quản lý, sử dụng gây thiệt hại cho người thứ ba vì những lýdo có thể nói là hết sức khác nhau: i) do lỗi của người được chủ sở hữugiao quản lý sử dụng; ii) không phải do lỗi của người được chủ sở hữugiao quản lý, sử dụng. Trong trường hợp thứ nhất, do lỗi của người đượcchủ sở hữu giao quản lý sử dụng, thì pháp luật quy định người được chủsở hữu giao quản lý sử dụng nhà cửa, công trình phải chịu trách nhiệmbồi thường cho người bị thiệt hại là hợp lý. Tuy nhiên, một vấn đề hếtsức phức tạp, cần phải được xác định rõ trong trường hợp này, đó là làmthế nào để có thể xác định được lỗi của người được chủ sở hữu giao quảnlý, sử dụng nhà cửa, công trình. Rõ ràng đây là việc rất không đơn giảntrên thực tiễn cũng như trong lý thuyết.

Mặt khác quy định tại Điều 627 có thể nói là phù hợpđối với những trường hợp xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đốivới chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa.Còn đối với việc sử dụng và quản lý công trình xây dựng. Thật sự tácgiả còn nhiều băn khoăn đối với công trình xây dựng được quy định tạiĐiều 627. Công trình mà các nhà làm luật muốn nói đến ở đây là côngtrình xây dựng đã hoàn hành và đã được đưa vào sử dụng hay công trìnhcòn đang được xây dựng. Nếu công trình xây dựng đã hoàn thành và đãđược đưa vào sử dụng thì pháp luật quy định như vậy là phù hợp với thựctiễn, còn nếu công trình đang được xây dựng, chưa hoàn thành thì quyđịnh của pháp luật nói trên chưa ổn.

Quá trình tự do hóa thương mại, đẩy mạnh việc côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn liền với việc bùng nổ trong lĩnhvực xây dựng nhà ở, công trình. Báo chí trong thời gian gần đây có đưanhiều thông tin về việc công trình đang xây dựng gây thiệt hại cho tàisản liền kề, đặc biệt là bất động sản. Trong trường hợp người thi côngcông trình, khi thực hiện công việc xây dựng của mình đã gây thiệt hạicho người khác. Ví dụ, gây thiệt hại cho chủ sở hữu ngôi nhà liền kề,thì chủ sở hữu công trình có phải liên đới cùng với người thi công chịutrách nhiệm bồi thường thiệt hại hay không? Tình huống này thường rấtxảy ra trong thực tế xây dựng ở Việt Nam chúng ta.

Nhiều người có quan điểm rằng, vấn đề này hết sứcphức tạp, bởi lẽ liên quan đến việc xây dựng công trình, chất lượng củacông trình có rất nhiều chủ thể tham gia, bao gồm: Chủ đầu tư, ngườikhảo sát thiết kế, người thi công và người giám sát công trình. Trongtrường hợp công trình xây dựng gây thiệt hại cho người khác thì chủ đầutư phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người đó, bởi lẽ khómà có thể bóc tách trách nhiệm của từng chủ thể nói trên. Có thể nói,quan điểm trên chưa thật thuyết phục, bởi lẽ trong vô vàn trường hợpchủ đầu tư có thể không có lỗi, hoặc giả có lỗi, thì chủ đầu tư có thểchưa có đủ khả năng tài chính để bồi thường cho người bị thiệt hại. Nếunhư vậy thì có vẻ không công bằng đối với người bị thiệt hại, bởi lẽtrong nhiều trường hợp chủ đầu tư có thể trốn tránh trách nhiệm khi chorằng, việc gây thiệt hại là do lỗi của người thi công, hoặc cố tình kéodài thời hạn bồi thường. Khi nghiên cứu Luật xây dựng chúng ta nhậnthấy vấn đề này hiện nay vẫn còn để ngỏ, chưa có sự điều chỉnh của phápluật.

Mặc dù có nhiều chủ thể tham gia vào việc thực hiệncông trình, đối với việc xây dựng công trình thì chủ yếu có hai chủ thểtham gia: chủ đầu tư và nhà thầu-người thi công.

Trước hết hãy xem xét mối liên hệ giữa chủ sở hữucông trình với người thi công công trình. Dưới góc độ pháp lý, ở đây rõràng không có thống nhất ý chí giữa chủ sở hữu công trình và người thicông trong việc gây thiệt hại (trong cả hành vi và hậu quả). Khôngnhững thế mà chủ sở hữu công trình hoàn toàn không thực hiện một hànhvi cụ thể nào, chỉ có người thi công mới thực hiện hành vi xây dựng lànguyên nhân của thiệt hại cho người khác. Vậy thì bản chất của mối quanhệ giữa chủ công trình và người thi công là gì? Họ có phải liên đớichịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người thứ ba hay không? Đó lànhững câu hỏi cần phải được làm sáng rõ, bởi nó vừa có ý nghĩa pháp lývừa có ý nghĩa thực tế. Trong trường hợp này, khi xác định trách nhiệmliên đới bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu công trình, rất có thể mộtvấn đề sẽ được đặt ra: Lỗi của họ – chủ sở hữu công trình trong việcgây ra thiệt hại được xác định như thế nào?

Xét về bản chất, mặc dù giữa chủ sở hữu công trìnhvà người thi công không có sự thống nhất ý chí, tuy nhiên dưới góc độpháp lý, mặc dù là hai chủ thể độc lập, họ được coi là một bên của quanhệ pháp luật – quan hệ pháp luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Hànhvi của người này cũng được coi là hành vi của người kia. Thật vậy, hànhvi của người thi công là hệ quả của hành vi, theo đó chủ sở hữu côngtrình thiết lập mối quan hệ pháp luật với người thi công. Người thicông trong trường hợp này hành động với tư cách là người đại diện củachủ sở hữu công trình, thay mặt cho chủ sở hữu công trình. Tuy nhiêncũng cần phải lưu ý rằng, quan hệ giữa chủ sở hữu công trình với ngườithi công hoàn toàn khác với quan hệ giữa người lao động và người sửdụng lao động. Quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động làmối quan hệ phụ thuộc, vì vậy trong trường hợp người lao động, trongquá trình thực hiện công việc của mình mà gây thiệt hại thì không thểáp dụng trách nhiệm liên đới được. Điều này có nghĩa là người bị thiệthại chỉ có quyền yêu cầu người sử dụng lao động bồi thường thiệt hại.Vấn đề này sẽ được phân tích kỹ hơn trong phần tiếp theo của luận án.Còn chủ sở hữu công trình và người thi công là hai chủ thể độc lập,không phụ thuộc, vì vậy người bị thiệt hại có quyền yêu cầu áp dụng cácquy định trách nhiệm liên đới.

Khi bàn đến mối quan hệ giữa chủ sở hữu công trìnhvới người thi công trong việc xác định trách nhiệm liên đới bồi thườngthiệt hại có thể sẽ xảy ra trường hợp, khi giữa chủ sở hữu công trìnhvà người thi công có thỏa thuận, theo thỏa thuận này người thi côngphải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu trong quá trình thi côngcó gây thiệt hại cho người khác. Vậy thì thỏa thuận này có hiệu lực haykhông? Nếu nó có hiệu lực thì có nghĩa là người bị thiệt hại chỉ cóquyền yêu cầu người thi công chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.Thỏa thuận nói trên sẽ chỉ có hiệu lực đối với chủ sở hữu công trình vàngười thi công mà hoàn toàn không có hiệu lực pháp luật trong mối quanhệ với người bị thiệt hại. Điều này có nghĩa là họ phải chịu tráchnhiệm liên đới ngay cả khi có sự thỏa thuận nói trên. Trong trường hợpnày người bị thiệt hại có quyền yêu cầu hoặc người thi công, hoặc chủsở hữu công trình hoặc cả hai cùng chịu trách nhiệm bồi thường thiệthại.

Mặt khác khi nghiên cứu một số vụ án dân sự liênquan đến bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng gây ra có thể nhậnthấy có sự giải quyết tương tự. Ví dụ, Bản án số 30/DSST ngày 24/7/2002Tòa án nhân dân Quận 3 TP. Hồ Chí Minh đã buộc chủ nhà cùng người thicông phải cùng chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữungôi nhà liền kề do công trình xây dựng trong quá trình thi công đã gâythiệt hại cho người đó.

Đối với bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm caođộ gây ra cũng được coi là một trong những vấn đề cần phải có sự cẩntrọng khi phân tích bởi tính phức tạp của nó. Điểm 2 khoản 4 Điều 623BLDS 2005 quy định, khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếmhữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồnnguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đớibồi thường thiệt hại. Cần phải hiểu quy định này của pháp luật như thếnào là vấn đề cần phải được làm sáng rõ khi áp dụng pháp luật.

Trong thực tiễn giải thích và áp dụng pháp luật vềlĩnh vực bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, có thểnói là có nhiều ý kiến, quan điểm không đồng nhất. Theo quy định tạiđiểm 2 khoản 4 Điều 623 BLDS 2005, khi chủ sở hữu, người được chủ sởhữu gia chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trongviệc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thìphải liên đới bồi thường thiệt hại. Vấn đề phức tạp ở đây là hiểu thếnào về việc chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụngcũng có lỗi trong việc để người khác chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểmcao độ trái pháp luật? Theo quy định của Nghị quyết Số 03/2006/NQ-HĐTPngày 8/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫnáp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng thì lỗi của chủ sở hữu hay người được chủ sở hữu giaochiếm hữu, sử dụng hợp pháp trong trường hợp này được thể hiện thôngqua các hình thức sau đây: không tuân thủ hoặc tuân thủ không đầy đủcác quy định về bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguyhiểm cao độ theo quy định của pháp luật. Như vậy một vấn đề lớn lạiđược đặt ra và cần phải tìm được lời giải đáp: như thế nào được coi làkhông tuân thủ hoặc tuân thủ không đầy đủ các quy định về bảo quản,trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định củapháp luật. Theo cách giải thích trên, pháp luật có sự quy định rõ ràngviệc bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ.Như vậy, theo lôgic nếu người khác chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểmcao độ do người khác sở hữu nhưng không phải là hậu quả của những hànhvi nói trên, thì liệu chủ sở hữu có phải liên đới bồi thường thiệt hạihay không. Mặc dù được quy định như vậy, nhưng rất khó tìm thấy trongluật pháp những quy định về việc chủ sở hữu phải về bảo quản, trônggiữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ như thế nào. Điều nàyđã gây ra nhiều khó khăn trong việc giải thích và áp dụng Điểm 2 khoản4 Điều 623 BLDS 2005.

Trong những năm gần đây, Nhà nước ta luôn quan tâm,coi trọng việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, các quy định vềbồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trong đó có trách nhiệm liên đớibồi thường thiệt hại nói riêng. Vấn đề này được đặc biệt quan tâm nhấtlà khi chúng ta đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thươngmại thế giới (WTO) và xuất phát từ quan điểm: thứ nhất, thiệt hại phảiđược bồi thường kịp thời và đầy đủ; thứ hai, đảm bảo sự công bằng chonhững người chịu trách nhiệm và giữa những người liên đới chịu tráchnhiệm bồi thường thiệt hại; góp phần nâng cao trách nhiệm của cá nhân,tổ chức trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình,đặc biệt là các cơ quan tham gia tố tụng. Có thể nói rằng, đây vừa làmục tiêu vừa là động lực của sự phát triển, đảm bảo sự công bằng đồngthời cũng là đáp ứng nhu cầu khách quan của xã hội Việt Nam trong quátrình hội nhập, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựngnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam chúng ta.Song song với việc xây dựng một hệ thống pháp luật tương đối hoànchỉnh, phù hợp với thực tiễn, bảo đảm là một công cụ tạo ra và bảo đảmcho xã hội công bằng, dân chủ, văn minh để tạo niềm tin cho người dân,Nhà nước không ngừng chú trọng đến việc hoàn thiện các quy định củapháp luật về bồi thường thiệt hại.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng vàhoàn thiện các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệthại, tuy nhiên hiện nay ở nước ta các quy định của pháp luật trong lĩnhvực này cũng như việc áp dụng các quy định đó còn chưa đáp ứng được nhucầu của thực tiễn về sự đầy đủ, tính thống nhất và các yêu cầu khác củacủa một thể chế pháp luật trong một xã hội đang phát triển không ngừng.Các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng nhưthực trạng đội ngũ cán bộ, công chức áp dụng pháp luật khi xác địnhtrách nhiệm bồi thường thiệt hại còn tồn tại khá nhiều bất cập trongviệc bảo đảm sự công bằng của các chủ thể khi bị bắt buộc liên đới chịutrách nhiệm bồi thường thiệt hại. Chính vì lẽ đó nên việc hoàn thiệncác quy định của pháp luật về chế định bồi thường thiệt hại, trong đócó trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản là một yêu cầu hết sứccần thiết đối với Việt Nam chúng ta hiện nay.

Việc xác định rõ ràng một cách tương đối trongtrường hợp nào các chủ thể phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thườngthiệt hại, trong trường hợp nào thì không có ý nghĩa hết sức quan trọngxuất phát từ thực trạng của đất nước và đặc biệt trong bối cảnh hiệnnay ở Việt Nam. Công cuộc đổi mới trong những năm gần đây đòi hỏi sựcông minh của những bản án liên quan đến trách nhiệm liên đới bồithường thiệt hại, tạo niềm tin cho người dân vào sự công bằng của luậtpháp nhằm phục vụ cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh.

Sự nhận thức pháp luật của người dân ngày một đượcnâng cao, vì vậy cần thiết phải có sự quy định rõ ràng hơn về tráchnhiệm bồi thường thiệt hại. Trong thời đại tự do hóa thương mại, thếgiới không ngừng biến đổi và phát triển, đòi hỏi mọi việc cần phải đượcgiải quyết nhanh chóng, kể cả việc bồi thường thiệt hại do tài sản gâyra. Tiền đề cho những mục tiêu nói trên bao gồm:

Thứ nhất, sự xây dựng và hoàn thiện nền kinhtế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với sự tham gia của nhiềuthành phần kinh tế ở nước ta hiện nay đòi hỏi phải có một trật tự phápluật cho thị trường để tạo tiền đề cho sự phát triển của hoạt độngthương mại, mang lại sự an toàn cho các chủ thể tham gia vào thị trườngđó. Trong những năm qua sự chuyển biến nền kinh tế một cách mạnh mẽ từnền kinh tế tập trung, kế hoạch sang nền kinh tế thị trường định hướngxã hội chủ nghĩa của nước ta được coi là bước cải tổ cơ bản, tác độngđến nhiều vấn đề, hiện tượng xã hội. Điều 15 Hiến pháp 1992 xác định rõmục tiêu của nền kinh tế nước ta là làm cho dân giàu, nước mạnh; xã hộicông bằng, dân chủ và văn minh… đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vậtchất, tinh thần của nhân dân. Nền kinh tế thị trường đương nhiên cũngsẽ làm phát sinh nhiều quan hệ mới liên quan đến chế định liên đớibồi thường thiệt hại chưa từng được biết đến trước đây, và điều này đòihỏi phải có sự điều chỉnh kịp thời của pháp luật nhằm đảm bảo lợi íchcủa các chủ thể tham gia thị trường cũng như của Nhà nước. Nếu phápluật có sự quy định rõ ràng trách nhiệm liên đới của các chủ thể trongnhững trường hợp cụ thể, cần thiết thì sẽ tạo được niềm tin vào phápluật của các nhà đầu tư, những người gia nhập thị trường, góp phần làmcho họ luôn tin rằng, pháp luật luôn là công cụ hữu hiệu, công bằngđược xây dựng nên để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Thứ hai, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân đòi hỏi các cơ quannhà nước, cán bộ công chức nhà nước, các cơ quan tư pháp không nhữngphải hoạt động trong phạm vi của pháp luật mà phải hiểu rõ luật phápkhi áp dụng. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc xác định tráchnhiệm liên đới bồi thường thiệt hại. Để bảo đảm sự công bằng trong xétxử thì không những cần phải có các quy định pháp luật phù hợp với thựctiễn mà còn cần phải có đội ngũ những người áp dụng pháp luật có trìnhđộ chuyên môn, nghiệp vụ cao. Việc hoàn thiện các quy định của phápluật về chế định liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại gắnliền với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, dodân và vì dân ở nước ta. Vì vậy, nó phải được tiến hành theo những yêucầu và nguyên tắc của việc xây dựng nhà nước pháp quyền dân chủ, đảmbảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi xác định trách nhiệmliên đới bồi thường thiệt hại. Rõ ràng việc xây dựng các quy định củapháp luật về chế định trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại phảibảo đảm được hai yếu tố: i) phải bảo đảm được quyền lợi của người bịthiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra, điều này được thể hiện ởviệc thiệt hại của họ cần phải được bồi thường kịp thời và đầy đủ. Mộttrong những yếu tố bảo đảm cho việc thiệt hại được bồi thường kịp thờivà đầy đủ được biểu hiện thông qua việc xác định rõ phạm vi chủ thểliên đới chịu trách nhiệm bồi thường; ii) tuy nhiên cũng không vì vậymà pháp luật bắt buộc một số chủ thể cùng với các chủ thể khác phảiliên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại mặc dù hành vi của họhoàn toàn không có mối liên hệ nào với hậu quả xảy ra, hoặc họ hoàntoàn không có lỗi đối với thiệt hại xảy ra.

Nếu pháp luật và những người áp dụng pháp luật khônggiải quyết được hai vấn đề trên thì dễ xảy ra trường hợp tùy tiện trongxét xử, kết quả là bản án không công bằng, không phù hợp với nhữngchuẩn mực pháp lý, đạo đức. Gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, mộttrong những cam kết của Việt Nam là phải công khai các quyết định củaTòa án, vì vậy nếu có quá nhiều bản án được thông qua không công bằng,không phù hợp với những chuẩn mực pháp lý, đạo đức thì niềm tin củangười dân đối với pháp luật sẽ bị giảm sút, và điều này gián tiếp gâytác động đến công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩacủa dân, do dân và vì dân ở nước ta, gây cản trở cho quá trình hội nhậptoàn diện của nước ta với thế giới.

Thứ ba, sự tăng trưởng kinh tế không ngừngtrong những năm qua và tiếp tục có sự tăng trưởng vượt bậc trong nhữngnăm tới cũng đặt ra nhu cầu phải có sự hoàn thiện hệ thống pháp luậtnói chung và các quy định về trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hạinói riêng. Trách nhiệm dân sự, trách nhiệm dân sự liên đới bồi thườngthiệt hại là sự bảo đảm cho các quan hệ tài sản giữa các chủ thể tronglưu thông dân sự và trong hoạt động kinh doanh, thương mại. Để có mộtxã hội dân sự lành mạnh, hoạt động kinh doanh thương mại phát triểnkhông ngừng thì cần phải có sự cân bằng về lợi ích giữa các chủ thểtham gia. Một trong những yếu tố quan trọng để đạt được điều đó thìpháp luật cần phải phân định rõ ràng, trong trường hợp nào thì các chủthể vi phạm pháp luật phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệthại, trong trường hợp nào là trách nhiệm riêng rẽ.

Xã hội càng phát triển thì có sự tham gia ngày càngnhiều các phương tiện giao thông cơ giới trong quá trình lưu thông vàđiều này làm gia tăng nguồn nguy hiểm cao độ. Như đã phân tích ở trên,việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm caođộ gây ra theo quy định của Điểm 2 khoản 4 Điều 625 BLDS 2005 được coilà vấn đề hết sức phức tạp. Quy định “khi chủ sở hữu, người được giaochủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗitrong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái phápluật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại” được hiểu chưa thống nhất.

Thứ tư, năng lực của Thẩm phán còn nhiều hạnchế. Điều này được thể hiện qua việc, cùng một vụ án về bồi thườngthiệt hại nhưng lại có nhiều quan điểm trái ngược nhau; đặc biệt bồithường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trong thực tiễn pháplý ở nước ta có nhiều quan điểm không đồng nhất. Trong một vụ án, TrầnVăn A, mặc dù biết rằng Phạm Văn T không có bằng lái xe nhưng vẫn choPhạm Văn T mượn xe môtô Win 100 cc. Do phóng nhanh, T gây ra tai nạngiao thông và làm cho chị Nguyễn Thị C bị thương. Có quan điểm chorằng, căn cứ vào khoản 4 Điều 627 BLDS 1995 các anh Trần Văn A và PhạmVăn T phải liên đới bồi thường thiệt hại cho chị Nguyễn Thị C. Quanđiểm khác lại cho rằng, để bắt buộc một người phải chịu trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng, cần phải có đủ 4 điều kiện: i) Phải cóhành vi gây thiệt hại trái pháp luật; ii) phải có thiệt hại thực tế xảyra; iii) phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi gâythiệt hại trái pháp luật; iv) phải có lỗi của người gây thiệt hại. Nhưvậy, hành vi của anh T hội đủ 4 điều kiện nói trên nên anh T phải chịutrách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chị C. Hành vi của anh A khôngthoả mãn bất cứ điều kiện nào trong 4 điều kiện nói trên, vì vậy anh Akhông có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho chị C, mặc dùanh A là chủ sở hữu chiếc xe đã gây ra tai nạn. Có nhiều ý kiến về mộtvụ án như vậy bởi lẽ chưa có cách hiểu một cách nhất quán khoản 4 Điều627 BLDS 1995 (khoản 4 Điều 623 BLDS 2005).

Hoàn thiện hệ thống pháp luật là một công việcthường xuyên, nghiêm túc, có hệ thống và hết sức cần thiết ở mọi quốcgia. Hệ thống pháp luật nói chung và chế định trách nhiệm dân sự bồithường thiệt hại, trong đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tàisản nói riêng cũng cần phải được nghiên cứu và hoàn thiện để đáp ứngđược nhu cầu điều chỉnh những quan hệ mới phát sinh trong lĩnh vực này.Vì vậy, công việc trước hết cần phải làm là hoàn thiện các quy định vềtrách nhiệm dân sự liên đới bồi thường thiệt hại trong Bộ luật Dân sựViệt Nam.

Kết quả nghiên cứu, phân tích cho thấy rằng, cần phải hoàn thiện các quy định sau đây của pháp luật, cụ thể là Bộ luật Dân sự:

Như đã phân tích trên, Việt Nam chúng ta đang trongquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc xây dựng cáccông trình được tiến hành mọi nơi. Thực tiễn cho thấy nhiều công trìnhtrong quá trình xây dựng, vì nhiều lý do khác nhau đã gây thiệt hại chotài sản, công trình, nhà cửa liền kề. Ai là người chịu trách nhiệm bồithường thiệt hại trong những trường hợp này? Nếu theo quy định của Điều627, thì chủ sở hữu (ở đây có thể được coi là chủ đầu tư, nhà thầu),người được chủ sở hữu (ở đây có thể được coi là người thi công) giaoquản lý, phải bồi thường thiệt hại. Như vậy, xuất phát từ ý tứ của điềuluật nói trên, chúng ta khó có thể xác định được, trong trường hợp côngtrình đang xây dựng vì bị sụp đổ, sụt lở nên gây thiệt hại cho ngườikhác thì ai phải bồi thường: chủ đầu tư, người thi công hay cả hai cùngliên đới chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại? Về mặtkhách quan rất khó có thể xác`định được, công trình đang xây dựng bịsụp đổ, sụt lở là do lỗi của ai, bởi lẽ có ít nhất các chủ thể sau đâytham gia vào việc thiết kế, xây dựng công trình: Chủ đầu tư, người khảosát, người thiết kế, người thi công và người giám sát công trình. Nhưvậy, trong số những người nói trên thì chủ đầu tư và người thi công lànhững người có mối quan hệ mật thiết với công trình. Còn đối với nhữngngười như khảo sát, thiết kế, giám sát công trình, vì quan hệ của họvới chủ đầu tư được xác lập trên cơ sở hợp đồng được ký kết giữa họ vớichủ đầu tư, nên họ họ sẽ chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư theo tráchnhiệm trong hợp đồng. Vì vậy, trong trường hợp này, để đảm bảo quyềnlợi của người bị thiệt hại, pháp luật nên quy định trách nhiệm liên đớibồi thường thiệt hại của chủ đầu tư và người thi công. Trên cơ sở sựphân tích nói trên, có thể thấy, Điều 627 BLDS 2005 cần phải được bổsung với nội dung như sau: Chủ đầu tư và người thi công công trìnhphải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợpcông trình đang xây dựng vì bị sụp đổ, sụt lở gây thiệt hại cho ngườikhác. Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, đây chỉ là một sự gợi ý, bởilẽ vấn đề này hết sức phức tạp, đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ và sâu hơn.

Pháp luật nói chung không những của Việt Nam mà củacác nước, cho dù ở đó pháp luật có được coi là tốt nhất, cũng không baogiờ có thể cụ thể mà chỉ có thể rõ ràng, nhưng thực tiễn lại hết sứcphong phú và đa dạng. Vì vậy, để pháp luật đi vào cuộc sống thì quyđịnh chung của pháp luật cần phải được cụ thể hóa bằng những văn bảndưới luật để hướng dẫn thi hành.

Các văn bản hướng dẫn thi hành, đặc biệt là Nghịquyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần phải được xây dựng sát với thựctế, đáp ứng được sự thay đổi không ngừng của các quan hệ xã hội. Khôngnhững thế, các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần phải đượcxây dựng xuất phát từ những lập luận có tính khoa học, logic. Ở đâyluận án chỉ muốn đề cập đến một số Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phánTANDTC liên quan đến bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gâyra, đặc biệt là phần hướng dẫn cách thức giải quyết bồi thường thiệthại trong trường hợp chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu,sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để cho người khácchiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật gây thiệt hạicho người khác theo quy định tại Điểm 2 khoản 4 Điều 623 BLDS 2005.

Cho đến thời điểm này, nội dung Điều 623 BLDS 2005chủ yếu được giải thích một cách chính thức trong Nghị quyết03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006. Theo Nghị quyết này, nếu chủsở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp có lỗitrong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái phápluật (không tuân thủ hoặc tuân thủ không đầy đủ các quy định về bảoquản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo quyđịnh của pháp luật) thì phải liên đới cùng với người chiếm hữu, sử dụngtrái pháp luật bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.Sự giải thích trong Nghị quyết nói trên cũng chỉ dừng lại ở đó. Như vậycâu hỏi thế nào là không tuân thủ hoặc tuân thủ không đầy đủ các quyđịnh về bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độtheo quy định của pháp luật thì chưa được giải thích và hướng dẫn cụthể. Vì không có sự giải thích rõ ràng nên có thể hiểu quy định nóitrên theo tinh thần của Thông tư 03-TATC ngày 5/4/1983 của TANDTC hướngdẫn giải quyết một số vấn đề về bồi thường thiệt hại trong tai nạn ôtô, theo đó việc không tuân thủ hoặc tuân thủ không đầy đủ các quy địnhvề bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theoquy định của pháp luật được thể hiện như: không khoá xe, không tắt máytrước khi rời xe hoặc không có biện pháp bảo vệ cần thiết. Có thể nói,cách giải thích như vậy là khá phù hợp, nhưng chưa đầy đủ. Chưa đầy đủbởi lẽ trong nhiều trường hợp, rõ ràng là có lỗi của chủ sở hữu hayngười được chủ sở hữu giao chiếm hữu trong việc để cho người khác chiếmhữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại cho người khác nhưngNghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 của Hội đồng thẩm phánTANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về bồi thườngthiệt hại ngoài hợp đồng không quy định trách nhiệm liên đới bồi thườngthiệt hại mà bắt buộc chủ sở hữu hay người được chủ sở hữu giao chiếmhữu, sử dụng phải bồi thường.

Ví dụ: Chủ sở hữu biết người đó không có bằng lái xemô tô, nhưng vẫn giao quyền chiếm hữu, sử dụng cho họ mà gây thiệt hại,thì chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại. Cũng có lẽ chính vì vậy màtrong thực tiễn xét xử có nhiều trường hợp Tòa án đã giải thích khôngđúng tinh thần của pháp luật khi áp dụng.

Cách giải thích, hướng dẫn nói trên chưa thật thuyếtphục, bởi lẽ trong trường hợp nói trên chủ sở hữu nguồn nguy hiểm caođộ đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độkhông theo đúng quy định của pháp luật. Việc giao xe mô tô cho ngườikhông có bằng lái được coi là hành vi có lỗi trong việc để cho ngườikhông có bằng lái sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ và phải được áp dụngtheo Điểm 2 khoản 4 Điều 623 BLDS 2005. Trên cơ sở những phân tích ởtrên, chúng ta thấy rằng, Tòa án nhân dân tối cao nên có sự hướng dẫncụ thể hơn việc vận dụng điểm 2 khoản 4 Điều 623 BLDS 2005 theo hướng,nếu chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng mô tô,giao mô tô cho người không có bằng lái sử dụng mà gây thiệt hại, thìphải liên đới cùng với người trực tiếp gây thiệt hại bồi thường.

Trong thực tiễn xét xử ở Việt Nam, khi xác định chủthể liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, một trong những khókhăn thường gặp phải đó là khả năng, trình độ nhận thức của Thẩm phán,của những người áp dụng pháp luật. Không hiếm trường hợp quyết định củaTòa án bắt buộc chủ thể phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệthại trong khi chủ thể hầu như hoàn toàn không có lỗi. Bên cạnh đó, cũngcó không ít trường hợp, theo nguyên tắc phải áp dụng trách nhiệm liênđới bồi thường thiệt hại nhưng quyết định của Tòa án lại không như vậy.Kết quả là bản án khó có thể bảo đảm được tính công bằng, thuyết phụccao và như vậy khả năng tranh chấp dễ kéo dài và Tòa án phải xét xử quanhiều cấp.

Để tránh những trường hợp nói trên, song song vớiviệc hoàn thiện các quy định của pháp luật về trách nhiệm liên đới bồithường thiệt hại, cùng với việc hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao,cần phải nâng cao năng lực đội ngũ Thẩm phán của nước nhà. Thực tiễnmấy chục năm qua cho thấy rằng, khi xét xử các Thẩm phán của chúng tathường có thói quen quy chiếu khi áp dụng luật: quy chiếu vào Bộ luật,quy chiếu vào hướng dẫn của Tòa án tối cao. Rõ ràng, khi xét xử theothói quen quy chiếu thì việc nâng cao năng lực của Thẩm phán sẽ gặp rấtnhiều khó khăn và quan trọng là không phù hợp với yêu cầu của công cuộccải cách tư pháp. Vì vậy, một trong những nhiệm vụ của công cuộc cảicách tư pháp ở nước ta là nâng cao năng lực của đội ngũ Thẩm phán để cóđược một đội ngũ Thẩm phán giỏi, có khả năng độc lập tư duy, phát hiệnvấn đề.

SOURCE: ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤPTRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI “TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO TÀI SẢN GÂY THIỆT HẠI– VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN”.

MÃ SỐ: LH-08-05/ĐHL. HÀ NỘI NĂM 2009

TS. PHẠM KIM ANH – Đại học Luật TPHCM

CÁM ƠN TS. TRẦN THỊ HUỆ – CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI ĐÃ CHIA SẺ BÀI VIẾT

VIỆC SỬ DỤNG LẠI BÀI VIẾT PHẢI NHẬN ĐƯỢC SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ

CÁC CHUYÊN ĐỀ THUỘC ĐỀ TÀI

 

TỔNG THUẬT

TS. Trần Thị Huệ

1

Khái niệm chung về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Ths. Nguyễn Minh Oanh

2

Ý nghĩa, đặc điểm và xác định chủ thể của trách nhiệm dân sự do tài sản gây ra

PGS.TS. Đinh Văn Thanh

3

Pháp luật dân sự Việt Nam và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới qui định về trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại gây ra.

TS. Nguyễn Minh Tuấn

4

Lược sử qui định của pháp luật về trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại

TS. Phạm Kim Anh

5

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

TS. Vũ Thị Hải Yến

6

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây thiệt hại

Ths. Nguyễn Hồng Hải

7

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác và cây cối gây ra.

Ths. Vũ Thị Hồng Yến

8

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản của vợ, chồng gây thiệt hại.

Ths. Bùi Thị Mừng

9

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngcó yếu tố nước ngoài.

TS. Nguyễn Hồng Bắc

10

Một số vướng mắc trong thực tiễn giải quyết tranh chấp về Trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại.

TS. Nguyễn Văn Cường & Ths. Bùi Dung Huyền

11

Một số vấn đề thủ tục giải quyết tranh chấp và vấn đề thi hành án về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra

TS. Trần Anh Tuấn

12

Những bất cập trong qui định của pháp luật về Trách nhiệm do tài sản gây thiệt hại và hướng hoàn thiện.

TS. Trần Thị Huệ


Lưu Ý: Thông tin nêu trên chỉ có tính tham khảo và có thể đã hết giá trị sử dụng tại thời điểm Quý Vị đọc thông tin này. Vì vậy Quý Vị cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.

Những nội dung khác cùng chuyên mục:
  • Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu quy định tại khoản 3 Điều 159 của Bộ luật Tố tụng dân sự (3/5/2011 7:18:51 PM)
  • Thực tiễn thi hành bộ luật dân sự: Rối chuyện xác định ngày chết trong thủ tục tuyên bố chết (15/4/2011 11:14:50 AM)
  • Nguyên nhân một số vụ án dân sự bị hủy (15/4/2011 11:14:50 AM)
  • “Di tặng” theo quy định tại Điều 671 Bộ luật Dân sự (15/4/2011 11:14:49 AM)
  • Riêng tư là thiêng liêng (15/4/2011 11:14:49 AM)
  • Hệ thống đăng ký trực tuyến giao dịch bảo đảm (15/4/2011 11:14:49 AM)
  • Thi hành Bộ luật Dân sự về sở hữu: Mập mờ sở hữu chung cư! (15/4/2011 11:14:48 AM)
  • Triển khai Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước: Tổ chức “bí” vì thiếu người (15/4/2011 11:14:48 AM)
  • Tranh chấp về xác lập quyền sở hữu: Tấm ván đóng thuyền thuộc về ai ? (15/4/2011 11:14:47 AM)
  • Tranh chấp về hiệu lực của hợp đồng: Cái cống hôi trước cửa sạp (15/4/2011 11:14:47 AM)
  • Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong vụ án kinh tế - dân sự (15/4/2011 11:04:55 AM)
  • Chống tẩu tán tài sản bằng khởi kiện dân sự (15/4/2011 11:04:55 AM)
  • Con cá mập bị bắt và chuyện hứa thưởng (15/4/2011 11:04:54 AM)
  • Qui định mới về đăng ký giao dịch bảo đảm (15/4/2011 11:04:54 AM)
  • Qui định về “Hội” ở Việt Nam (15/4/2011 11:04:54 AM)
  • Thăm dò ý kiến
    Bạn có hài lòng với giao diện của hệ thống kiến thức luật ?
    Tôi thấy rất đẹp !
    Tôi thấy bình thường
    Tôi thấy không đẹp
    Cần thay bằng tông đen
    Cần thay bằng tông xanh
    Ý kiến khác
    Bản đồ hướng dẫn đường đi
    Xem nhiều - Điểm tin
    Xem nhiều - Hỏi đáp
    Xem nhiều - Thủ tục
    Xem nhiều - Biểu mẫu
    Xem nhiều - Văn bản
    + Được xem nhiều
    + Hỗ trợ trực tuyến
    Dân sự - Thừa kế
Đất Đai - Bất động sản
  • Dân sự - Thừa kế
  • Đất Đai - Bất động sản
  • Đầu tư nước ngoài - Dự án
Hợp đồng - Sở hữu trí tuệ
  • Đầu tư nước ngoài - Dự án
  • Hợp đồng - Sở hữu trí tuệ
  • Thành lập công ty
Thay đổi đăng ký kinh doanh
Chia tách sáp nhập
  • Thành lập công ty
  • Thay đổi đăng ký kinh doanh
  • Chia tách sáp nhập
  • + Thông tin liên hệ

    CÔNG TY LUẬT NAM DƯƠNG

    Đ/c: Tầng 1, Khu văn phòng Nam Dương, đối diện 322 Lê Trọng Tấn, Thanh Xuân, Hà Nội

    ĐT: 04. 2215 8998 - 2260 1636

    Hotline: 0984.99.95.97-  Ls Trung Hiếu

    Email: contact@luatnamduong.vn

    Website: www.luatnamduong.vn

    « Bài viết mới »
    + Điểm tin
    « Bài viết mới »
    + Hỏi đáp pháp luật
    « Bài viết mới »
    + Thủ tục
    « Biểu mẫu mới »
    + Biểu mẫu
    « Bài viết mới »
    + Văn bản
    CHUYÊN TRANG THÔNG TIN PHÁP LUẬT
    Địa chỉ: Tòa nhà 26 lô 1A, Khu đô thị Trung Yên, Hà Nội.
    Email: contact@luatnamduong.vn
    Tham khảo các chuyên trang: www.dautunuocngoai.com.vn / www.dangkykinhdoanh.org / www.quyche.com
    © 2008 - 2014 KIẾN THỨC LUẬT

    Xem tốt trên các trình duyệt: IE 7+, Firefox 3+, GoogleChrome 4+

    Ghi rõ nguồn "kienthucluat.vn" khi phát hành lại thông tin từ website này.